Showing posts with label Bệnh về vú. Show all posts
Showing posts with label Bệnh về vú. Show all posts

Thursday, October 11, 2012

20 Khám Phá Về Bệnh Ung Thư Vú

Theo Trung tâm Nghiên cứu Ung bướu Thế giới (IARC), ung thư vú là bệnh phổ biến và có tỉ lệ tử vong cao nhất trong số các dạng bệnh ung thư ở phụ nữ.

Đề cập về căn bệnh này, Tạp chí Nghiên cứu Ung thư (RFC) của Mỹ vừa cập nhật một số khám phá mới giúp mọi người phòng tránh và ngăn ngừa căn bệnh nan y nói trên.

1. Ung thư vú (Breast cancer) từng được các bác sĩ ở Ai Cập cổ đại phát hiện cách đây trên 3.500 năm, được miêu tả là căn bệnh có khối u ở vú và không chữa được.

Năm 400 trước Công nguyên, Hippocrates mô tả ung thư vú là một dịch bệnh gây nên bởi mật đen hoặc do chứng u uất (melancholia), và được ông đặt tên là karkinos, nghĩa là “con cua”, bởi khối u ung thư vú gây nên bởi sự mất cân bằng của bốn loại dịch trong cơ thể, nhất là dư thừa mật, bác sĩ người Pháp Jean Astruc (1684 - 1766) đã nấu chín một ít mô ung thư vú và một lát thịt bò, sau đó nhai cả hai và phát hiện thấy khối ung thư vú không hề chứa mật hoặc axit.

2. Bệnh nhân ung thư vú trẻ tuổi nhất thế giới sống sót sau phẫu thuật là Aleisha Hunter Ontario người Canada, khi mới 3 tuổi. Aleisha đã trải qua một cuộc giải phẫu cắt bỏ vú thành công năm 2010.

Trung bình, mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 1,2 triệu ca ung thư vú được phát hiện, 75% rơi vào nhóm phụ nữ trên 50.

3. Ung thư vú là căn bệnh phổ biến nhất ở phụ nữ Mỹ sau ung thư da và xếp vào hàng thứ hai chỉ sau ung thư phổi về tử vong do ung thư ở phụ nữ.

Ung thư vú thường xảy ra ở vú trái nhiều hơn vú phải, và đến nay khoa học vẫn chưa rõ lí về điều này.

4. Tỉ lệ mắc ung thư vú ở các nước công nghiệp phát triển thuộc diện cao nhất, điều này có thể hiểu ngầm nhóm người giàu có tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú cao hơn nhóm người có thu nhập thấp.

5. Tại Mỹ, trung bình mỗi ngày có 112 phụ nữ chết vì ung thư vú hay 15 phút lại có 1 ca tử vong vì ung thư vú. Mỹ là quốc gia có tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú cao nhất thế giới, hiện có khoảng 2,5 triệu người ung thư vú sống sót.

6. Ca phẫu thuật cắt bỏ vú vì ung thư đầu tiên diễn ra năm 548 cho một bệnh nhân có tên Theodora, Nữ hoàng Byzantine.

7. Chỉ có 5 – 10% ung thư vú xảy ra ở phụ nữ có yếu tố di truyền, tuy nhiên, nếu mang đột biến gen thì cứ 5 người có 4 bị ung thư vú và ung thư buồng trứng cũng tăng với tỉ lệ thấp hơn 5/2.

8. Phụ nữ da trắng có tỉ lệ mắc ung thư vú cao hơn so với phụ nữ Mỹ gốc Phi. Tuy nhiên, phụ nữ Mỹ gốc Phi lại có tỉ lệ chết vì bệnh ung thư vú cao hơn so với phụ nữ da trắng.

Hiện nay, cứ 3.000 phụ nữ mang thai hoặc cho con bú thì có 1 người bị ung thư vú. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú thai kì thì cơ hội sống thấp hơn so với nhóm không mang thai. Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên cần nên chiếu chụp vú mỗi năm từ 1 – 2 lần.

9. Trong khi ung thư vú ở phụ nữ khá phổ biến thì ở nam giới lại rất hiếm, chiếm 1% tỉ lệ ung thư.

Ví dụ tại Mỹ, có khoảng 400 đàn ông chết vì ung thư vú mỗi năm, nhất là nhóm người Mỹ gốc Phi.

Các nguy cơ ung thư vú của nam giới gồm tuổi tác, đột biến gen BRCA, hội chứng Klinerfelter, rối loạn tinh hoàn, tiền sử gia đình, mắc bệnh gan nặng, tiếp xúc với bức xạ, được điều trị với loại thuốc liên quan đến estrogen và mắc chứng béo phì.

20 khám phá về bệnh ung thư vú - 1
Nguy cơ ung thư vú tăng lên khi phụ nữ đã được sử dụng liệu pháp thay thế hoóc môn (HRT) trên 5 năm. (ảnh minh họa)

10. Cứ 40 phụ nữ thuộc tộc người Ashkenazi (Pháp, Đức, Đông Âu) và Do Thái thì có 1 mang gen BRCA1 và BRCA2 (gen gây ung thư vú) so với 1/ 500 – 800 ở dân số chung của toàn thế giới.

11. Nguy cơ ung thư vú tăng lên khi phụ nữ đã được sử dụng liệu pháp thay thế hoóc môn (HRT) trên 5 năm, nhất là trường hợp dùng cả estrogen lẫn progesterone kết hợp với nhau.

Riêng nhóm người đã cắt tử cung và đang dùng thuốc chỉ có chứa estrogen thì rủi ro thấp hơn.

12. Khối u có nhiều khả năng ác tính nếu cứng, và có hình dạng không đều, trong khi đó các khối u lành tính lại có hình dạng tròn hoặc mềm. Tuy nhiên, muốn có kết luận chính xác thì phải đi khám và làm các xét nghiệm cần thiết.

13. Ung thư vú thường được gọi là bệnh của “nữ tu sĩ” (Nun’s disease) vì tỉ lệ ở nhóm các nữ tu hành lại cao nhất, điều này khoa học vẫn chưa giải thích được.

14. Nuôi con bằng sữa mẹ liên tục được xem là giải pháp giảm ung thư vú tốt nhất hiện nay.

15. Không tìm thấy rủi ro tăng ung thư của thủ thuật cấy ghép nâng ngực. Tuy nhiên, Cơ quan Quản lý Thực – Dược phẩm Mỹ (FDA) gần đây đã phát hiện thấy việc cấy ghép nâng ngực có thể liên quan đến căn bệnh có tên là ALCL (anaplastic large cell lymphoma). ALCL không phải là ung thư vú, nhưng lại tạo nang bao quanh vật liệu cấy ghép.

16. Các dạng phổ biến nhất của ung thư vú (70%) bắt nguồn từ các ống dẫn sữa có trong vú và được gọi là ung thư biểu bì ống động mạch.

Một dạng ít phổ biến hơn (15%) là ung thư biểu bì thùy (lobular carcinoma), hoặc ung thư bắt nguồn từ các tiểu thùy. Ngoài ra còn có các loại bệnh lạ khác như ung thư tủy, bệnh Paget, ung thư thể ống…

17. Tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Mỹ (AJCN) cho biết, phụ nữ sử dụng vitamin tổng hợp (multivitamins) có rủi ro mắc bệnh ung thư vú cao.

Nhiều nghiên cứu đã phát hiện thấy quả lựu có tác dụng ngừa ung thư vú rất tốt nhờ hợp chất có tên là ellagitannins, có tác dụng làm giảm quá trình sản xuất estrogen để cung cấp nhiên liệu cho khối u vú phát triển.

18. Trung bình, cứ trên 100 ngày một tế bào ung thư lại phát triển kích thước gấp đôi. Nghiên cứu cho thấy cô đơn và căng thẳng là thủ phạm làm gia tăng các khối ung thư vú rất mạnh.

19. Theo nghiên cứu, phụ nữ thuận tay trái là nhóm dễ bị bệnh ung thư vú bởi những người này có mức phơi nhiễm cao với một số hoóc môn steroid ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ.

20. Cho đến nay khoa học hiện đại vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây bệnh ung thư vú, nhưng ngay từ thời xa xưa, người ta đã tình nghi đến rất nhiều yếu tố, trong đó có cả việc sao nhãng tình dục làm cho cơ quan sinh sản không làm tốt được chức năng của mình, hiện tượng thường thấy là gây teo vú và có khối u trong ngực.

Ngoài ra còn có các yếu tố khác như stress, trầm cảm, ức chế… lối sống tĩnh tại, ít vận động và béo phì cũng là nguyên nhân tiềm ẩn làm gia tăng căn bệnh này.

Sưu Tầm

Wednesday, October 10, 2012

Chẩn đoán ung thư vú

Chẩn đoán ung thư vú

Theo như những nghiên cứu của Bệnh viện ung bướu Hiện đại Quảng Châu cho thấy, ung thư vú chiếm 10% các loại ung thư trên cơ thể, là kẻ địch lớn uy hiếp đến sức khoẻ của nữ giới. Nhưng có rất nhiều người phụ nữ không hiểu về căn bệnh này, dẫn đến không được chẩn đoán kịp thời, khi nhập viện thì đã qua thời gian điều trị tốt nhất. Vậy thì, rốt cuộc là làm thế nào để chẩn đoán là có bị mắc ung thư vú hay không? Có những cách chẩn đoán ung thư vú nào?
chẩn đoán ung thư vú

 Phương pháp chẩn đoán ung thư vú

1.Siêu âm: Siêu âm có thể nhìn rõ hình dạng, bờ của tổ chức vú , có khối u hay không, kích thước, hình dạng, tính chất (dạng nang hay dạng khối thực thể ), là cơ sở khá đáng tin trong việc xác định u lành hay ác. Siêu âm ung thư vú có độ chính xác đến 80%~85% cho những phụ nữ 30 tuổi. Tiếng vang do khối u xâm lấn đến các tổ chức xung quanh hình thành nên rất lớn, tổ chức vú bình thường bị tổn thương và bề mặt da vú dày lên hoặc lồi lõm thường là các dấu hiệu để chẩn đoán ung thư vú quan trọng. Siêu âm không gây tổn thương, có thể được áp dụng nhiều lần.
2.Kiểm tra hình ảnh nhiệt độ: vận dụng hình ảnh hiển thị phân bố nhiệt độ, do tế bào ung thư sinh trưởng nhanh, huyết quản tăng lên, nhiệt độ bề mặt khối u tăng cao, nên nhiệt độ bề mặt khối u tương ứng cao hơn tổ chức xung quanh, lợi dụng sự khác biệt này để chẩn đoán. Nhưng phương pháp chẩn đoán này thiếu các tiêu chuẩn hình ảnh xác thực, các cơ quan có nhiệt độ khác thường không tương ứng với khối u nên tỷ lệ chẩn đoán phù hợp thấp, vì thế những năm gần đây rất ít khi áp dụng phương pháp này.
3.Chụp CT: có thể dùng để định vị trước khi làm sinh thiết bệnh biến khối u không thể chạm tới, xác định giai đoạn trước khi phẫu thuật ung thư vú, kiểm tra khu vực sau vú, lách và hạch vú có khối u hay không, giúp ích cho việc đưa ra phác đồ điều trị.
4.Kiểm tra chỉ số khối u: trong quá trình bệnh biến, do tế bào khối u sinh ra và phân hoá, trực tiếp phát ra thành phần tổ chức tế bào và tồn tại trong tế bào khối u hoặc trong dạng thể lỏng dưới hình thức kháng nguyên, enzyme, hoocmon hoặc chất chuyển hoá, các loại chất này gọi là chỉ số khối u. Các cách kiểm tra có: kháng nguyên carcinoembryonic (CEA), Ferritin, kháng thể đơn dòng.
5.Sinh thiết tổ chức khối u: ung thư vú cần chẩn đoán chính xác mới có thể tiến hành điều trị, hiện nay tuy có rất nhiều phương pháp để kiểm tra, nhưng đến nay chí có kết quả sinh thiết mới là căn cứ duy nhất để khẳng định sự chẩn đoán. ① chọc hút làm sinh thiết: cách này đơn giản, nhanh chóng, an toàn, tỷ lệ cho dương tính cao khoảng 80%~90%, có thể dùng phổ cập trong phòng chống ung thư. Nếu chẩn đoán lâm sàng là ác tính và báo cáo tế bào học là lành tính hoặc nghi ngờ ung thư, thì cần lựa chọn phẫu thuật làm sinh thiết để chẩn đoán rõ ràng và chính xác. ② cắt một phần khối u làm sinh thiết: do phương pháp này dễ khiến cho ung thư lây lan nên thông thường sẽ ít dùng phương pháp này. Chỉ khi ở giai đoạn cuối, để xác định loại bệnh lý thì mới nghĩ đến phương pháp này. ③ Cắt bỏ hoàn toàn khối u để làm sinh thiết: nếu nghi ngờ khối u là ác tính thì việc cắt bỏ khối u và tổ chức xung quanh trong một phạm vi nhất định được gợi là cắt bỏ hoàn toàn để làm sinh thiết, thông thưởng yêu cầu vùng biên khối u khoảng 1mm thì có thể cắt bỏ hoàn toàn.

 Tự kiểm tra ung thư vú như thế nào?

1.Kiểm tra khi tắm
Khi tắm, xoa xà bong tắm vào ngực trước để kiểm tra độ trơn, khi kiểm tra, một tay đặt sau ngực, một bàn tay duỗi thẳng và khép lại, dùng lòng bàn tay xoay theo chiều xoắn ốc để kiểm tra từng bộ phận của vú, xem có khối u hay không, có thể dùng cách này để kiểm tra 2 bên vú.
2.Kiểm tra trước gương
Đứng trước gương, hay tay buông xuống, xem bên ngoài vú có gì bất thường hay không, đầu vú có bị lồi lõm không, da ở vú có bị nhăn hay không, có khối u hay không, bóp nhẹ đầu vú xem có tiết dịch không, tiếp đến kiểm tra dưới lách, có hạch hay không, cuối cùng, giơ hai tay lên qua đầu và làm lại một lần nữa.

 Khi chẩn đoán ung thư vú cần phân biệt với các bệnh về vú sau

1.U xơ tuyến vú: thường gặp ở những người phụ nữ trẻ, khối u lớn thường có hình tròn hoặc hình bầu dục, bờ rõ ràng, phát triển chậm, đối với phụ nữ trên 40 tuổi thì không nên coi nhẹ chẩn đoán u xơ tuyến vú, cần trừ khả năng khối u ác tính.
2. Tăng sản tuyến vú: thường gặp ở phụ nữ trung niên và phụ nữ trẻ tuổi, đặc điểm là vú sưng đau, khối u xuất hiện theo chu kì hoặc khi đến kì kinh nguyệt.
3.Viêm vú tế bào plasma: là chứng viêm không có vi khuẩn trong tổ chức vú. Về lâm sàng, trên 60% có biểu hiện viêm cấp tình, khi khối u lớn thì vùng da vú thay đổi giống như da cam.40% bệnh nhân bắt đầu bởi viêm mãn tính, có biểu hiện là quầng vú có khối u, bờ không rõ, vùng da có thể dính và đầu vú lồi lõm.
4. Lao vúlà bệnh mãn tính tổ chức vú do trực khuẩn lao gây nên. Bệnh dễ phát sinh ở phụ nữ trung niên và phụ nữ trẻ. Quá trình phát triển bệnh dài, phát triển chậm. Biểu hiện cục bộ là khối u trong vú, u cứng và hơi dẻo, khu vực khối u có cảm giác như nang. Bờ khối u có lúc không rõ ràng, có thể có cảm giác đau nhưng không theo chu kỳ.
Do áp lực công việc lớn, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất dẫn đến các loại bệnh về vú, ung thư vú cũng càng ngày càng tiến gần đến loài người. Ở đây, các chuyên gia Bệnh viện ung bướu Hiện đại Quảng Châu khuyên các bạn nữ hằng năm nên đến bệnh viện khám định kỳ.

Điều Trị Ung Thư Vú

Ung thư vú là một trong những căn những bệnh thường gặp nhất của chị em phụ nữ, tỷ lệ phát bệnh chiếm 10% so với những khối u ác tính khác trên cơ thể, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của chị em. Sự tấn công của ung thư vú làm cho phái đẹp mất tự tin trong cuộc sống, công việc, làm ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình. Làm thế nào để khắc phục ung thư vú, là vấn đề quan tâm của bệnh nhân và gia đình, chuyên gia bệnh viện ung bướu Hiện Đại Quảng Châu chỉ ra liệu pháp tế bào miễn dịch, giúp cho bệnh nhân ung thư vú nhìn thấy được sức khỏe có tia hi vọng, hạnh phúc tự nhiên sẽ đến.

 điều trị ung thư vú

Phương pháp truyền thống điều trị ung thư vú

Phương pháp truyền thống điều trị ung thư vú gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Đối với bệnh nhân ung thư giai đoạn đầu, phẫu thuật là phương án điều trị chủ yếu, phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u, làm giảm bớt tình trạng bệnh, nhưng phẫu thuật có những hạn chế nhất định. Trước tiên, phẫu thuật cắt bỏ tế bào ung thư đồng thời cũng cắt bỏ một phần tế bào khỏe mạnh, khi đó đối với bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối hoặc bệnh nhân có sức khỏe suy nhược mà nói, phẫu thuật không phải là sự lựa chọn lý tưởng của họ, với lại phẫu thuật không thể cắt bỏ được những ổ bệnh nhỏ, sau phẫu thuật lại để tái phát và di căn trở lại. Vì vậy điều trị hậu phẫu là không thể xem nhẹ.
Phóng xạ là phương pháp chủ đạo trong điều trị ung thư vú, là một trong những phương pháp điều trị cục bộ, so với phẫu thuật cắt bỏ thì bệnh nhân ít phải chịu sự hạn chế của việc giải phẫu học cơ thể, tuy nhiên hiệu quả của điều trị phóng xạ bị ảnh hưởng bởi những hiệu ứng sinh vật học cảu các tia xạ, những cách thức xạ trị hiện nay khó mà đạt được mục đích tiêu diệt toàn bộ khối u, hiệu quả kém hơn nhiều so với phẫu thuật, tác dụng phụ nhiều, thậm chí làm mất đi một phần chức năng của bộ phận đó, lúc này có thể kết hợp miễn dịch sinh học điều trị giảm đi tác dụng phụ của xạ trị.
Hóa trị là phương pháp điều trị toàn thân, giống như xạ trị vậy, tác dụng phụ rất nhiều. Hóa trị sẽ ức chế hệ thống tạo máu của tủy xương, chủ yếu là bạch cầu và tiểu cầu bị suy giảm, trên lâm sàng kết hợp với điều trị sinh học miễn dịch, có thể bổ trợ cho hóa trị, giảm nhẹ những tổn thương của hóa trị gây ra với hệ thống tạo máu.

Sinh học miễn dịch điều trị ung thư vú

Miễn dịch sinh học là phương pháp mới trong điều trị ung thư, tốt hơn phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, và cũng là kỹ thuật được ứng dụng nhiều và rộng rãi trong điều trị ung thư, có thể trực tiếp tiêu diệt tế bào ung thư, chống tái phát và di căn, nâng cao hệ miễn dịch, cải thiện chất lượng cuộc sống. Miễn dịch sinh học là lấy máu của bệnh nhân đem nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, nó có tác dụng tiêu diệt khối u và ức chế các tế bào miễn dịch (DC-CIK), sau đó chuyền ngược lại vào cơ thể bệnh nhân, tác dụng nâng cao hệ miễn dịch trong cơ thể chống lại với các tế bào ung thư đang sinh trưởng.
Đồng thời, khi kết hợp phương pháp miễn dịch sinh học, phẫu thuật hiện đại, hóa trị, xạ trị lại  có thể bổ xung lẫn nhau, không những có thể quyét sạch tàn dư để lại dù là nhỏ nhất mà còn có tác dụng phòng chống tái phát và di căn, đối với hệ miễn dịch bị suy giảm của người bệnh, nó càng làm tăng tác dụng độc đáo trong việc hồi phục và tái tạo
Hiện nay, miễn dịch sinh học có những ưu điểm như điều trị vết thương nhỏ, không tác dụng phụ, hiệu quả tốt, được nhiều bệnh nhân ung thư đón nhận, được coi là phương pháp điều trị ung thư vú tối ưu nhất, khả quan nhất, cũng là phương pháp duy nhất có thể kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân ung thư vú.

Sưu Tầm

Ung thư vú là một trong những bệnh u ác tình thường gặp nhất ở nữ giới, hằng năm trên thế giới có khoảng 500.000 người tử vong do ung thư vú. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ mắc ung thư vú chiếm 7%-10% các loại u ác tính trên cơ thể. Phụ nữ ở độ tuổi từ 40-60 tuổi và phụ nữ trước và sau kì mãn kinh là những nhóm người dễ mắc ung thư vú nhất, chỉ có 1%-2% bệnh nhân ung thư vú là nam giới.
ung thư vú

Ung thư vú nguy hiểm như thế nào?

Một số ít bệnh nhân ung thư vú có những triệu chứng đau nhẹ và ra dịch ở đầu vú ở các mức độ khác nhau khi ở giai đoạn đầu. Tốc độ phát triển của khối u của ung thư vú khá nhanh, vú sẽ có thay đổi giống như vỏ cam, vùng da trên bề mặt khối u lồi lõm, vú sẽ nghiêng về hướng có khối u, đầu vú lõm vào trong.
Ung thư vú giai đoạn giữa và cuối thường xuất hiện các triệu chứng “ăn uống không tốt-bệnh chuyển biến xấu”. Ăn uống không tốt là nguyên nhân bệnh chuyển biến xấu đi, cũng là biểu hiện lâm sàng của bệnh. Bệnh nhân ung thư vú xuất hiện triệu chứng ăn uống không ngon miện, chán ăn, gầy yếu, mệt mỏi, thiếu máu, nếu các triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Giai đoạn sau của ung thư vú sẽ xuất hiện di căn hạch, hạch ở dưới nách cùng bên to và số lượng cùng không ngừng tăng lên, dính với nhau thành nhóm, một số ít bệnh nhân sẽ có di căn hạch sang bên nách bên đối diện. Giai đoạn sau của ung thư vú còn xuất hiện di căn xa, tế bào ung thư sẽ di căn đến phổi sẽ xuất hiện triệu chứng đau ngực, thở gấp, di căn gan sẽ xuất hiện triệu chứng vàng da, gan to.
ung thư vú 2

Ung thư vú có những phương pháp điều trị nào?

Ung thư vú là loại ung thư rất dễ di căn đến toàn cơ thể, lựa chọn phương pháp điều trị chính xác là điều hết sức quan trọng. đối với những bệnh tình và tình trạng giai đoạn khác nhau của bệnh nhân ung thư vú, nhóm chuyên gia đa khoa của Bệnh viện Ung bướu Hiện đại Quảng Châu đã đưa ra phác đồ điều trị cụ thể cho từng bệnh nhân, kết hợp điều trị tổng hợp với 12 kĩ thuật vết thương nhỏ, giúp bệnh nhân kéo dài tuổi thọ, bảo tồn chức năng của vú, hạn chế tối đa không ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan của người phụ nữ.
Cho dù là bệnh nhân ung thư vú giai đoạn đầu hay giai đoạn giữa, cuối, thì trước khi tiền hành phẫu thuật, bệnh viện chúng tôi sẽ tiến hành điều trị nút mạch cục bộ trước, phương pháp điều trị này không những không làm tổn thương vú mà còn có tác dụng làm giảm tổn thương do loét ở vú, đồng thời còn có thể làm thu nhỏ khối u, nâng cao hiệu quả điều trị phẫu thuật. Sau khi điều trị phẫu thuật, lại dựa vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân lựa chọn thuốc phù hợp và có ít tác dụng phụ nhất để củng cố. Bệnh nhân ung thư vú có thể điều trị bằng Dao Ar-He, Dao Ar-He sẽ đâm chính xác vào tổ chức khối u thông qua hình ảnh CT để tiến hành điều trị làm lạnh, trong khi làm cho các tế bào ung thư lạnh đến chết thì sẽ không làm tổn thương đến các tế bào bình thường, có đặc điểm có vết thương nhỏ và tránh tái phát.
Đồng thời, Bệnh viện ung bướu Hiện đại Quảng Châu sẽ quán xuyến cả quá trình điều trị bằng Đông y, những hiệu quả mà Đông y đem lại như cân bằng cơ thể, chống ung thư, nâng cao hệ miễn dịch và tăng cường thể chất…khi kết hợp với điều trị sẽ kết hợp được ưu thế của Đông Tây y với nhau, có hiệu quả hơn trong điều trị ung thư vú.
điều trị ung thư vú

Chúng tôi sẽ hỗ trợ bạn

Bệnh viện Ung bướu Hiện đại Quảng Châu đã thiết lập Văn phòng đại diện tại nhiều nước trên thế giới, tại mỗi văn phòng đại diện đều có các chuyên gia ung thư giàu kinh nghiệm sẽ giúp bạn giải đáp mọi vấn đề, sau khi được tư vấn kĩ càng, hằng năm đã tiếp nhận điều trị cho nhiều bệnh nhân ung thư nước ngoài từ các văn phòng đại diện. Sau khi điều trị, những bệnh nhân mà bệnh được khống chế và chất lượng sống được nâng lên là những bệnh nhân ở nhiều quốc gia và khu vực như Việt Nam, Philippin, Campuchia, Indonesia, Thái Lan. Nếu bạn có bất cứ nghi vấn gì thì có thể thông qua các phương thức như tư vấn trực tuyến, email, điện thoại hoặc đến văn phòng đại diện tại địa phương để có thể trò chuyện và giao lưu với các chuyên gia của Bệnh viện ung bướu Hiện đại Quảng Châu, bạn sẽ nhận được những câu trả lời vừa ý.
Đến Bệnh viện ung bướu Hiện đại Quảng Châu điều trị, ngoài một đội ngũ chuyên gia ung thư ưu tú đưa ra phác đồ điều trị phù hợp với riêng bạn, thì trong cả thời gian điều trị, các y tá sẽ chăm sóc chu đáo cho bạn, quan tâm đến mọi nhu cầu về sinh hoạt và tâm lý của bạn. Các phiên dịch viện các thứ tiếng sẽ giúp bạn không còn thấy gặp trở ngại về ngôn ngữ, các chuyên gia dinh dưỡng sẽ đưa ra thực đơn phù hợp với tình trạng sức khoẻ của từng bệnh nhân và sự khác nhau trong thói quen ăn uống, thông qua ăn uống theo đôny có thể làm tăng hệ miễn dịch cho bệnh nhân. Tại đây, bệnh của bệnh nhân ung thư sẽ được khống chế và điều trị có hiệu quả, cơ thể sẽ được chăm sóc và điều chỉnh hợp lý.

Một số điều cần biết về bệnh ung thư vú

Một số điều cần biết về bệnh ung thư vú

Căn bệnh này chiếm 8% các ca ung thư trên thế giới. Ở Việt Nam, nó đứng hàng thứ 3 trong số các bệnh ung thư hay gặp nhất, sau ung thư dạ dày và cổ tử cung. Nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng, khả năng kéo dài thời gian sống sẽ rất cao, nguy cơ tái phát thấp.
Sau đây là một số vấn đề về ung thư vú:
1. Các yếu tố nguy cơ cao
- Tuổi tác: Trên 40.
- Ăn nhiều mỡ: Theo thống kê, tỷ lệ ung thư vú ở những người có chế độ ăn nhiều mỡ cao gấp 3 lần so với người bình thường.
- Đẻ muộn, không sinh đẻ, không lấy chồng, số lần đẻ ít, đẻ nhưng không cho con bú.
- Có kinh nguyệt sớm (trước 12 tuổi), mất kinh muộn (sau 60 tuổi).
- Có các bệnh tuyến vú lành tính như u xơ tuyến vú, áp xe vú, nang vú... Những người bị áp xe vú đã rạch tháo mủ có tỷ lệ ung thư hóa cao gấp 3 lần người bình thường.
- Rối loạn nội tiết (do dùng kéo dài các thuốc oestrogen, xinextron).
- Tiếp xúc nhiều với các tia phóng xạ, hóa chất.
2. Cách tự phát hiện khối u ở vú
Theo thống kê, 80-90% bệnh nhân tự phát hiện thấy u vú khi đã ở giai đoạn muộn, kết quả điều trị rất hạn chế. Để phát hiện sớm, phụ nữ từ 20 tuổi trở lên nên tự khám vú 1-2 lần mỗi tháng.
Cách khám: Đứng trước gương, quan sát kỹ hai bầu vú ở các tư thế: hai tay duỗi thẳng, chống nạnh, để trên đầu cân xứng hai bên. Xem độ cân xứng 2 vú, vú có tròn đều không, có hiện tượng nhăn da hay khối u không... Sau đó, dùng lòng bàn tay sờ nắn vú ở tư thế đứng hay nằm (chú ý không bóp ngang mà dùng cả bàn tay nắn toàn diện lên mặt tuyến vú). So sánh kỹ hai bên để phát hiện được những bất thường.
Phụ nữ trên 40 tuổi nên đi khám vú thường kỳ 1 năm/lần.
3. Xác định u vú lành hay ác tính
Khối u ở vú có hai loại chính: loại lành tính thường là u xơ tuyến vú, nang xơ tuyến vú, dị sản tuyến vú; loại ác tính là ung thư vú. Mỗi loại đều có triệu chứng lâm sàng khác nhau; nhưng các triệu chứng lâm sàng không đủ để khẳng định là u lành hay ác, dù bác sĩ có rất nhiều kinh nghiệm.
Do đó, người bệnh phải làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý, tức là lấy tổ chức tế bào tại khối u để xét nghiệm.
4. Điều trị
Nếu phát hiện u sớm, có thể giữ lại nguyên vú, chỉ cần lấy khối u và một phần tuyến lành quanh đó, kết hợp vét hạch nách. Nếu điều trị muộn, khối u quá lớn và xâm lấn tổ chức xung quanh thì bắt buộc phải phẫu thuật cắt toàn bộ vú, các cơ ngực, đồng thời nạo hạch nách.
Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân phải được chiếu xạ và dùng thuốc để bảo đảm bệnh lành hẳn, không tái phát. Liều lượng và thời gian chiếu xạ phải do bác sĩ chuyên khoa phóng xạ hạt nhân chỉ định. Bệnh nhân chiếu xạ nên tái khám định kỳ 1-2 tháng một lần; nếu phát hiện hạch di căn ở thành ngực, hố nách, hố thượng đòn, phải nhanh chóng phẫu thuật vét hạch ngay (gọi là mổ đuổi).
Ngoài ra, trong vòng 10 năm sau đó, bệnh nhân phải tái khám liên tục mỗi tháng một lần để theo dõi, chụp hình tuyến vú 2 bên, xét nghiệm sinh học...

Tự phát hiện sớm bệnh ung thư vú

Tự phát hiện sớm bệnh ung thư vú


Tự khám vú của mình là vấn đề quen thuộc hàng ngày của các bà các cô - vì vậy, cảm nhận chủ quan về vú của mình,
Tự khám vú của mình là vấn đề quen thuộc hàng ngày của các bà các cô - vì vậy, cảm nhận chủ quan về vú của mình,
Trong việc khám và tìm ra bệnh ở vú, đặc biệt ở vú của nữ, các tài liệu y học thế giới đều đề cao vấn đề tự khám của ng-ười bệnh. Nếu thiếu sự cộng tác của người bệnh thầy thuốc sẽ gặp khó khǎn trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. 
Tự khám vú
Tự khám vú của mình là vấn đề quen thuộc hàng ngày của các bà các cô - vì vậy, cảm nhận chủ quan về vú của mình, do đó rất nhạy cảm với những thay đổi bệnh lý ở vú.
Qua nghiên cứu, ng-ười ta khuyên thời gian khám xét tốt nhất, dễ bắt gặp những thay đổi ở vú là thời gian sau chu kỳ kinh nguyệt.
Tự khám vú gồm các thao tác đơn giản như: nhìn quan sát vú, da và màu sắc núm vú - có thể soi vào gương to để thấy cả diện rộng của vú hoặc xem vào gương nhỏ để trực tiếp với vú. Cần chú ý những thay đổi về hình thái, đối chiếu so sánh hai bên với nhau, có một sự đối xứng bình th-ường của hai vú không?
Có thể nắn vú nhẹ nhàng nhưng chắc tay theo động tác vòng tròn quanh núm vú hoặc dtheo chiều thẳng đứng của vú.
Nắn như- vậy có thể phát hiện thấy u, cục ở vú to nhỏ khác nhau, có thể ở một bên hoặc cả hai bên vú.
Cách nhận xét, đánh giá u, cục ở vú
U, cục ở vú th-ường gặp, chiếm khoảng 50% phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh, phần lớn các u cục thường gặp ở vú đều lành tính, nhưng mỗi khi gặp một u, cục xuất hiện ở vú mình, người bệnh rất lo lắng và thầy thuốc được mời khám cũng phải tìm phương pháp chẩn đoán xem đó là u lành hay u ác tính, quan trọng nhất là chẩn đoán loại trừ được ung thư vú.
Qua các xét nghiệm sinh thiết tế bào thì có nhiều loại u lành tính khác nhau nhưng 90% là các u nang xơ và u tuyến xơ. ở phụ nữ, loại u như thế này thường tǎng kích thước to và mềm ra trước khi có kinh. Các u này tǎng theo tuổi và đạt đỉnh cao ở tuổi mãn kinh. Rồi sau đó giảm dần rồi mất dần.
Trên những u lành tính ở vú, cũng có một vài thay đổi bệnh lý báo hiệu ung thư vú. Những thay đổi như vậy chiếm khoảng 2-4% tất cả những xét nghiệm sinh thiết theo dõi đánh giá một u cục ở vú là nhằm mục đích xem có khả nǎng ung thư- không? Cần xem xét các yếu tố có liên quan nh-ư tiền sử bị ung th-ư vú của ng-ười bệnh, tiền sử gia đình có ng-ười bị ung thư vú không?
Khi khám phát hiện thấy có một u cục ở vú cần hỏi kỹ xem u cục có từ bao giờ và những thay đổi của u liên quan tới chu kỳ kinh nh-ư thế nào? Cần chú ý: nếu u có những triệu chứng có tính chất chu kỳ thì có khả nǎng lành tính - nên khám lại giữa 7 và 10 ngày của chu kỳ kinh nguyệt và theo dõi u có giảm nhỏ hoặc mất đi sau chu kỳ kinh nguyệt không? Mỗi khi phát hiện thấy một cục u kín đáo, đơn độc cần cảnh giác tính chất ác tính, cần làm xét nghiệm tế bào học. Trường hợp có nhiều u, cục, đối xứng cả hai bên vú có triệu chứng thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt thì thường là "lành tính" ngược lại có một đám rắn, chắc không nhẵn, sờ như có một nhân cứng cố định lại có khả nǎng ung thư nhiều hơn.

Đau ở vú
Tự khám có thể phát hiện thấy đau ở vú. Hiện t-ượng đau ở vú, khi vú bị to ra, mềm và ứ dịch tr-ước khi có kinh là hiện tượng bình thường liên quan tới tǎng theo chu kỳ mức nội tiết, do đó đau cũng tǎng mạnh trong vài ngày cuối của chu kỳ kinh rồi giảm và mất khi có kinh. Một số phụ nữ cũng đau nhẹ liên quan tới cơn bùng lên của nội tiết "oestrogen" ở thời kỳ rụng trứng. Đau ở vú thường không liên quan tới ung th-ư vú. Không cần chữa trị.
Tuy vậy mỗi khi đau bất thường ở vú vẫn nên đi khám để tìm nguyên nhân, nhất là để chẩn đoán loại trừ ung thư vú.
Có trường hợp không phải do u, cục do viêm. Có khi áp xe do nhiễm trùng, phải xử trí theo kiểu viêm, áp xe, th-ường có sử dụng kháng sinh kết hợp. Theo một số tài liệu Mỹ, tr-ường hợp đau kéo dài, ng-ười ta th-ờng sử dụng vitamin E bổ sung cũng có tác dụng.
Những bất thường ở vú.
Có thể tự phát hiện thấy 1 số tình trạng bất thường ở núm vú như:
    Núm vú bị tụt trong (lộn ngược)
• Ở tuổi dậy thì cũng có thể bị tụt núm vú vào trong nhưng không nguy hiểm - chỉ gây khó khǎn cho trẻ bú về sau này.
• Núm vú có thể bị viêm, bị nhiễm trùng các ống sữa gây nên, nhưng xảy ra ở phụ nữ còn cho con bú.
• Cũng có thể gặp ở 1 số ít trường hợp bị ung thư vú.
    Núm vú bị nứt nẻ, đau
• Nguyên nhân thường do trẻ khi bú không ngậm hết núm vú vào miệng.
• Sau khi trẻ bú, cứ để núm vú ẩm ướt, bị nhiễm trùng, dễ bị nứt nẻ, đau - cần được chữa trị.
    Núm vú chảy ra chất dịch
• Chảy ra chấy dịch th-ường hiếm khi do ung thư
• Thường gặp ở phụ nữ trong thời kỳ sinh đẻ, nuôi con.
• Cũng có thể gặp ở một số phụ nữ trẻ có rối loạn về tuyến giáp trạng:
Theo tài liệu nghiên cứu mô dịch:
+ Nếu màu "vàng xám" đến" đen xám" thì thường lành tính.
+ Dịch máu thường lành tính hơn ác tính: Nếu có dịch chảy ra đột xuất nên đi khám bác sĩ để nếu cần được làm sinh thiết chẩn đoán tế bào được chính xác.
Những tổn thương ở da vú
Da vú có thể bị đóng vảy, chảy máu, loét hoặc nổi mẩn đỏ, thường do 2 nguyên nhân chính gây ra là:
• Bệnh Pagut (có viêm da thượng bì)
• Eczeme vú.
Nên khi khám cần đư-ợc làm sinh thiết để chẩn đoán loại trừ ung thư da.

Bạn biết gì về u vú?


U vú có thể là hiện tượng bình thường nhưng cũng có thể là dấu hiệu của căn bệnh ung thư vú. Do vậy, những kiến thức về các loại u vú, nguyên nhân, cách chẩn đoán, điều trị dưới đây sẽ rất hữu ích, giúp bạn chủ động hơn với sức khỏe của chính mình. 

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
U nang xơ

U nang xơ xuất hiện ở hơn 50% phụ nữ trưởng thành, dấu hiệu là một số vùng da ngực dày lên, sần sùi (nhiều nốt) và rất nhạy cảm. 

Chứng xơ hoá hay số lượng tế bào tuyến vú nhiều lên làm tắc ống dẫn sữa, ngăn sữa chảy ra là những nguyên nhân gây ra u nang xơ.

U nang xơ nằm lẫn với những mô xung quanh và có thể dịch chuyển đôi chút khi bạn chạm phải chúng, gây cảm giác đau và làm phần ngoài phía trên ngực căng phồng.

U nang xơ liên quan đến sự thay đổi bất thường của mức hóc-môn của vú trong chu kì kinh nguyệt và thời kì tiền mãn kinh, do vậy, trong suốt thời gian này, vùng ngực của bạn có thể sần sùi, nhạy cảm hơn. Thông thường, tình trạng này sẽ khá hơn sau giai đoạn mãn kinh vì lúc này mức hóc-môn estrogen và progesterone giảm xuống.

Đối với u nang xơ, có thể bạn phải điều trị bằng thuốc hay đơn giản hơn bạn chỉ cần điều chỉnh lại lối sống của mình. Một vài nghiên cứu cho thấy u nang xơ có liên quan đến chất caffein, chất làm ứ đọng dịch, do vậy, bạn nên hạn chế các sản phẩm có chứa caffein như sôcôla, cà phê hay côcacôla. 

Ngoài ra, bạn có thể tự phòng ngừa như dùng loại áo lót ngực thích hợp hay dùng thuốc giảm đau như thuốc Acetaminophen (như Tylenol và một số loại khác ) hay thuốc Ibuprofen (Advil, Motrin và một số loại khác). Thuốc tránh thai uống và thuốc Danazol cũng là loại thuốc điều trị hiệu quả những triệu chứng liên quan đến u nang xơ . 

Tuy nhiên, bạn chỉ nên dùng thuốc danazol trong trường hợp nghiêm trọng, những phương pháp khác đều không giúp được gì cho bạn vì loại thuốc này có những tác dụng phụ như kinh nguyệt không đều, tăng cân, xuất hiện mụn và nốt tấy đỏ cũng như lông mặt dày lên.

U nang

U nang là những "túi dịch"  sinh ra do ống dẫn sữa nở rộng ra dưới đầu núm vú. U nang thường có hình tròn hoặc hình ovan, trơn và cứng. Chúng thường dịch chuyển đôi chút khi bạn ấn tay vào.

U nang thường phổ biến ở phụ nữ tuổi 40, những người đang ở trong thời kì tiền mãn kinh vì mức hóc-môn sinh sản đang biến động thất thường. 

U nang có thể sẽ tự mất dần còn những u nang ác tính thường cứng và nhạy cảm (dễ phát hiện). U nang thường xuất hiện trong khoảng thời gian hai tuần trước chu kì kinh nguyệt của bạn và tự động biến mất sau chu kì của bạn kết thúc và khi u nang biến mất thì cảm giác đau cũng không còn.

Khám vú thông thường không thể chắc chắn được ngực bạn có u nang hay không, do vậy, khi bạn đi khám, bác sĩ sẽ dùng đến phương pháp chọc hút bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm (FNA) để hút chất dịch từ u nang ra. Nếu chất dịch đó có màu vàng hay vàng nhạt, bác sĩ sẽ đơn thuần giúp bạn hút hết chất dịch đó vì hiện tượng này không có gì đáng ngại. Tuy nhiên, nếu chất dịch đó có màu đỏ máu, bác sĩ sẽ gửi một mẫu chất dịch đó đến phòng thí nghiệm để kiểm tra sự có mặt của tế bào ung thư. Phương pháp FNA giúp giảm đau do u nang gây ra. 

U vú phát triển từ u nang có thể tự biến mất. Nếu u vú biến mất sau khi bác sĩ đã loại bỏ hết chất dịch và không xuất hiện trở lại trong 6 tuần sau đó thì bạn đã có thể yên tâm, không cần thêm bất kỳ biện pháp điều trị nào. Trong trường hợp, u vú không biến mất hay trở lại, có thể lúc này bạn phải được phẫu thuật loại bỏ chúng.

Bướu sợi tuyến vú

Bướu sợi tuyến vú có hình tròn tròn, cứng, dai sinh ra do phát triển quá mức của mô liên kết và mô thuộc tuyến. Bướu sợi tuyến vú có thể dần to bằng kích cỡ của một quả nho khô nhỏ, song chúng lành tính và thường không đau, có thể dịch chuyển đôi chút khi bạn ấn lên vùng da lân cận.

Bướu sợi tuyến vú thường phản ứng với những sự thay đổi của hóc-môn và có xu hướng to lên khi bạn mang thai và nhỏ lại sau thời kì mãn kinh. Bướu sợi tuyến vú thường xuất hiện ở nữ giới trong mọi độ tuổi, nhiều nhất vào độ tuổi 20 đến 40 tuổi. Chỉ cần kiểm tra ngực sơ bộ cũng có thể xác định được bướu sợi tuyến vú hoặc có thể kết hợp thêm phương pháp chụp quang tuyến X và siêu âm, song cách chắc chắn nhất là đưa mẫu mô đến phòng thí nghiệm để xét nghiệm.

Nếu có thể nên phẫu thuật để loại bỏ chúng hoàn toàn.

Bướu lành

Bướu lành – một u lành nhỏ xuất hiện trong ống dẫn sữa – có thể sinh ra một u vú nhỏ phía sau và gần mép của núm vú. 

Bướu lành có thể là nguyên nhân làm núm vú tiết chất dịch một cách tự động hoặc khi bạn ấn vào. Chất dịch thường có màu đỏ. 

Bác sĩ có thể tiến hành các biện pháp kiểm tra như phương pháp chụp quang tuyến X hay siêu âm để chẩn đoán. Phương pháp điều trị thường là phẩu thuật cắt bỏ ống dẫn sữa bị ảnh hưởng và xét nghiệm mẫu mô.

Tuesday, September 11, 2012

Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú

Hội Ung thư Hoa Kỳ ước tính, 75% số trường hợp ung thư vú ở phụ nữ không biết yếu tố nguy cơ.
Những yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú:

1. Giới tính phụ nữ hay gặp ung thư vú hơn gấp 100 lần so với nam giới.

2. Tuổi. Khả năng ung thư vú tăng theo tuổi. Hiếm khi bệnh tác động tới phụ nữ dưới 25 tuổi, trong khi gần 80% số trường hợp ung thư vú xuất hiện ở phụ nữ trên 50 tuổi.

Ở tuổi 40, bạn có 1/252 khả năng bị ung thư vú. Ở tuổi 85, khả năng của bạn là 1/8.

3. Tiền sử bản thân bị ung thư vú. Nếu bạn bị ung thư ở một bên vú, bạn có nguy cơ cao bị ung thư ở vú còn lại.

4. Tiền sử gia đình. Phụ nữ có mẹ hoặc chị gái bị ung thư vú sẽ có nguy cơ cao bị căn bệnh này. Nếu bạn có một người ruột thịt bị ung thư vú, nguy cơ của bạn tăng gấp đôi. Nếu bạn có từ hai người ruột thịt trở lên bị ung thư vú, nguy cơ của bạn cao hơn nhiều.

5. Yếu tố di truyền. 5 - 10% số trường hợp ung thư vú do di truyền. Thiếu một trong các gen, đặc biệt là BRCA1 hay BRCA2, làm cho bạn có nguy cơ cao bị bệnh.

6. Thừa cân. Mối liên quan giữa thừa cân và bệnh ung thư vú rất phức tạp. Nguy cơ ung thư vú thậm chí cao hơn nếu bạn có nhiều mỡ hơn ở phần dưới của cơ thể.

Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú - 1
Phụ nữ uống hơn một cốc rượu mỗi ngày sẽ tăng 20% nguy cơ ung thư vú

7. Tiếp xúc với estrogen. Tiếp xúc với estrogen trong thời gian dài, nguy cơ ung thư vú cao hơn. Nói chung, nếu mãn kinh muộn (sau tuổi 55) hoặc bắt đầu có kinh trước tuổi 12, bạn có nguy cơ cao bị ung thư vú.

8. Sinh con muộn. Phụ nữ sinh con đầu lòng khi họ từ 35 tuổi trở lên sẽ tăng nguy cơ ung thư vú.


9. Chủng tộc. Phụ nữ da trắng dễ bị ung thư vú hơn phụ nữ da đen hoặc phụ nữ Tây Ban Nha.


10. Liệu pháp thay thế hormon. Được coi là liệu pháp điều trị chuẩn đối với các triệu chứng mãn kinh, nhưng liệu pháp phối hợp hormon có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú.

11. Thuốc tránh thai. Hội Ung thư Hoa Kỳ cho rằng, phụ nữ hiện dùng viên thuốc tránh thai có thể tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú.

12. Hút thuốc lá. Nghiên cứu của Mayo Clinic cho thấy, hút thuốc lá làm tăng rõ rệt nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ có tiền sử gia đình ung thư vú và buồng trứng.


Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú - 2
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư vú (ảnh minh họa)

13. Tiếp xúc với tác nhân gây ung thư. Hydrocarbon thơm đa vòng là hóa chất có chủ yếu trong khói thuốc lá và thịt nạc nướng. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tiếp xúc với những hóa chất này có thể làm tăng rõ rệt nguy cơ ung thư vú.

14. Uống quá nhiều rượu. Phụ nữ uống hơn một cốc rượu mỗi ngày sẽ tăng 20% nguy cơ ung thư vú so với phụ nữ không uống rượu.

15. Ngủ ít. Nguy cơ ung thư vú tăng nếu bạn làm việc ca ba hoặc tới đêm. Nguy cơ này cao nhất nếu bạn không ngủ từ 1-2 giờ sáng, khi nồng độ melatonin (hormon điều hòa giấc ngủ) cao nhất.

Phụ nữ thiếu ngủ trong thời điểm này ít nhất ba đêm mỗi tuần sẽ tăng 40% nguy cơ ung thư vú. Phụ nữ làm việc ban đêm sẽ tăng 60% nguy cơ.
sưu tầm

Monday, September 3, 2012

Tăng sản tuyến vú có cần làm phẫu thuật hay không?



Các chuyên gia tại phòng khám đa khoa 59 Khương Trung cho hay, bệnh tăng sản tuyến vú có cần làm phẫu thuật hay không còn cần xem xét đến tình trạng bệnh cụ thể của bệnh nhân, nếu không cần phẫu thuật mà vẫn có thể đạt được kết quả điều trị thì lúc đó không cần dùng tới phương pháp phẫu thuật. Cho đến nay thì nguyên nhân gây bệnh và phát bệnh vẫn chưa được xác định một cách chính xác, bởi vậy phương pháp điều trị cơ bản căn bệnh này là phương pháp trị liệu.
Các biểu hiện cho thấy nữ giới mắc bệnh này là: vú bị đau, vú dày lên hoặc nổi hòn, khi ấn vào sẽ cảm thấy đau, kèm theo đó là tâm lý thay đổi như tức giận, căng thẳng, nổi nóng, …Nếu khi đi khám xác định rõ là mắc bệnh tăng sản tuyến vú, việc đầu tiên là bạn không nên quá lo lắng và sợ hãi, nhất định phải căn cứ vào tình hình bệnh cụ thể để phán đoán, thực hiện các phương pháp trị liệu theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của bác sỹ.
Phòng khám đa khoa Khương Trung có các trang thiết bị tiên tiến hiện đại thế giới nhằm phục vụ cho việc chữa trị bệnh này như: máy chẩn đoán, điều trị bằng tia hồng ngoại, kỹ thuật điều trị quang điện, …phòng khám có đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm điều trị lâm sàng, đã giúp hàng ngàn bạn nữ thoát khỏi những nỗi khổ do bệnh tật đem lại.

Những triệu chứng của bệnh tăng sản tuyến vú



Triệu chứng ở thời kỳ đầu của bệnh tăng sản tuyến vú là gì?
Đây là một dạng bệnh về vú thường gặp ở phụ nữ, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất trong số các loại bệnh về tuyến vú ở phụ nữ. Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh có chiều hướng gia tăng, các bạn nữ nên có sự dự phòng tốt với bệnh này. Vậy làm sao để phát hiện ra bệnh? Bệnh này trong thời kỳ đầu thường có những triệu chứng gì? Tìm hiểu về điều này rất có lợi cho sức khỏe của chị em phụ nữ, tuyệt đối không nên coi thường.
Các chuyên gia phòng khám đa khoa Khương Trung phân tích về các triệu chứng trong giai đoạn đầu của bệnh tăng sản tuyến vú ở nữ giới như sau:

Thứ nhất, biểu hiện đầu tiên là đau vú, đau bụng hoặc ngứa rát, đau chủ yếu ở vị trí vú bị sưng, có thể là một bên vú hoặc cả hai bên, thấy nhiều là trường hợp đau một bên. Những người bị nặng còn không thể chạm vào, thậm chí có thể ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống hàng ngày.

Thứ hai, người mắc bệnh tăng sản tuyến vú sẽ có hiện tượng vú bị sưng, có thể là một hoặc cũng có thể là cả hai bên vú, dễ thấy nhất ở góc phần tư phía trên bên ngoài vú, cũng có thể xuất hiện tại các vị trí khác. Hiện tượng sưng có thể thành vùng, dạng hạt với độ to nhỏ khác nhau, hạt to có kích thước khoảng 3-4 cm.

Thứ ba, đầu vú xuất hiện dịch tiết, chỉ số ít bệnh nhân có hiện tượng này, dịch huyết tương có màu vàng xanh hoặc nâu.

Thứ tư, ngoài ra thì bệnh nhân mắc bệnh này xuất hiện hiện tượng kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt không định kỳ, đồng thời lượng kinh nguyệt ít và có màu nhạt, có thể đi kèm với hiện tượng bị đau bụng kinh, các bạn nữ nên hết sức chú ý đến các triệu chứng này.

Thứ năm, khi mắc bệnh này sẽ dẫn tới hiện tượng tâm trạng của bệnh nhân không tốt, dễ nổi nóng, khi gặp phải chuyện bực mình hoặc căng thẳng tâm lý, lao động mệt sau triệu chứng này sẽ nặng hơn.

Saturday, July 14, 2012

Nguyên nhân viêm tuyến vú

Chuyên gia phòng khám đa khoa Khương Trung chỉ ra rằng, viêm tuyến vú thường gặp ở phụ nữ sinh con lần đầu, chủ yếu do phụ nữ không tuân theo thói quen sinh hoạt tốt. Trong những nguyên nhân gây bệnh, số phụ nữ viêm tuyến vú do thói quen sinh hoạt không tốt chiếm tỷ lệ lớn. Dưới đây, chuyên gia sẽ giải thích rõ hơn về lý do gây bệnh viêm tuyên vú ở phái đẹp:
 
1.  Nguyên nhân chủ yếu là do phụ nữ lần đầu tiên làm mẹ, da đầu núm vú còn non nớt, khi cho con bú không đúng cách. Mặt khác, trong khi bú em bé lôi kéo, ma sát nhiều, cũng dễ gây tổn thương.
2. Khi núm vú của người mẹ thụt vào, tắc sữa hoặc bằng phẳng quá, bé bú sẽ rất khó khăn, phải cắn mút đầu vú, hình thành nên những vết thương nhỏ và loét. Khi đầu vú đã nứt, vi khuẩn bên ngoài xâm nhập được vào tuyến sữa, sinh sôi nhanh chóng trong tuyến sữa, dẫn đến viêm.
Mặt khác người mẹ có thói quen nặn sữa nhưng nặn không đúng cách cũng khiến núm vú cũng bị tổn thương.
 
3. Không chú ý vệ sinh “núi đôi” sạch sẽ, sữa ứ đọng, không thông cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm tuyến vú .

Popular Posts