Wednesday, October 10, 2012

Một số điều cần biết về bệnh ung thư vú

Một số điều cần biết về bệnh ung thư vú

Căn bệnh này chiếm 8% các ca ung thư trên thế giới. Ở Việt Nam, nó đứng hàng thứ 3 trong số các bệnh ung thư hay gặp nhất, sau ung thư dạ dày và cổ tử cung. Nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng, khả năng kéo dài thời gian sống sẽ rất cao, nguy cơ tái phát thấp.
Sau đây là một số vấn đề về ung thư vú:
1. Các yếu tố nguy cơ cao
- Tuổi tác: Trên 40.
- Ăn nhiều mỡ: Theo thống kê, tỷ lệ ung thư vú ở những người có chế độ ăn nhiều mỡ cao gấp 3 lần so với người bình thường.
- Đẻ muộn, không sinh đẻ, không lấy chồng, số lần đẻ ít, đẻ nhưng không cho con bú.
- Có kinh nguyệt sớm (trước 12 tuổi), mất kinh muộn (sau 60 tuổi).
- Có các bệnh tuyến vú lành tính như u xơ tuyến vú, áp xe vú, nang vú... Những người bị áp xe vú đã rạch tháo mủ có tỷ lệ ung thư hóa cao gấp 3 lần người bình thường.
- Rối loạn nội tiết (do dùng kéo dài các thuốc oestrogen, xinextron).
- Tiếp xúc nhiều với các tia phóng xạ, hóa chất.
2. Cách tự phát hiện khối u ở vú
Theo thống kê, 80-90% bệnh nhân tự phát hiện thấy u vú khi đã ở giai đoạn muộn, kết quả điều trị rất hạn chế. Để phát hiện sớm, phụ nữ từ 20 tuổi trở lên nên tự khám vú 1-2 lần mỗi tháng.
Cách khám: Đứng trước gương, quan sát kỹ hai bầu vú ở các tư thế: hai tay duỗi thẳng, chống nạnh, để trên đầu cân xứng hai bên. Xem độ cân xứng 2 vú, vú có tròn đều không, có hiện tượng nhăn da hay khối u không... Sau đó, dùng lòng bàn tay sờ nắn vú ở tư thế đứng hay nằm (chú ý không bóp ngang mà dùng cả bàn tay nắn toàn diện lên mặt tuyến vú). So sánh kỹ hai bên để phát hiện được những bất thường.
Phụ nữ trên 40 tuổi nên đi khám vú thường kỳ 1 năm/lần.
3. Xác định u vú lành hay ác tính
Khối u ở vú có hai loại chính: loại lành tính thường là u xơ tuyến vú, nang xơ tuyến vú, dị sản tuyến vú; loại ác tính là ung thư vú. Mỗi loại đều có triệu chứng lâm sàng khác nhau; nhưng các triệu chứng lâm sàng không đủ để khẳng định là u lành hay ác, dù bác sĩ có rất nhiều kinh nghiệm.
Do đó, người bệnh phải làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý, tức là lấy tổ chức tế bào tại khối u để xét nghiệm.
4. Điều trị
Nếu phát hiện u sớm, có thể giữ lại nguyên vú, chỉ cần lấy khối u và một phần tuyến lành quanh đó, kết hợp vét hạch nách. Nếu điều trị muộn, khối u quá lớn và xâm lấn tổ chức xung quanh thì bắt buộc phải phẫu thuật cắt toàn bộ vú, các cơ ngực, đồng thời nạo hạch nách.
Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân phải được chiếu xạ và dùng thuốc để bảo đảm bệnh lành hẳn, không tái phát. Liều lượng và thời gian chiếu xạ phải do bác sĩ chuyên khoa phóng xạ hạt nhân chỉ định. Bệnh nhân chiếu xạ nên tái khám định kỳ 1-2 tháng một lần; nếu phát hiện hạch di căn ở thành ngực, hố nách, hố thượng đòn, phải nhanh chóng phẫu thuật vét hạch ngay (gọi là mổ đuổi).
Ngoài ra, trong vòng 10 năm sau đó, bệnh nhân phải tái khám liên tục mỗi tháng một lần để theo dõi, chụp hình tuyến vú 2 bên, xét nghiệm sinh học...

No comments:

Post a Comment

Popular Posts